Một số trao đổi về thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo luật phòng, chống ma túy năm 2025

Cập nhật lúc: 10:53 16/07/2026

Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 (Luật số 120/2025/QH15, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026) đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng trong công tác cai nghiện ma túy. Một trong những sửa đổi mang tính căn bản là quy định về thời hạn cai nghiện ma túy. Cụ thể, khoản 1 Điều 29 của Luật này quy định: Thời hạn cai nghiện ma túy đối với người cai nghiện lần đầu là 24 tháng, đối với người từ lần thứ hai trở lên là 36 tháng.

Tuy nhiên, tại Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính (Luật XLVPHC) hiện hành, thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính (XLIHC) đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn được ấn định theo khung từ 12 tháng đến 24 tháng. Sự bất cập, thiếu đồng bộ này đã và đang làm phát sinh những quan điểm khác nhau trong thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân: Khi xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, Tòa án sẽ áp dụng thời hạn theo văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) nào? Việc ấn định thời hạn cố định (24 tháng và 36 tháng) có bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng bị đề nghị áp dụng hay không?

Dưới góc độ pháp lý, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là một trong các biện pháp XLVPHC thuộc thẩm quyền quyết định của Tòa án nhân dân. Việc Điều 95 Luật XLVPHC quy định thời hạn áp dụng theo khung (từ 12 tháng đến 24 tháng) thể hiện nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hành chính. Quy định này tạo cơ sở pháp lý cho Thẩm phán căn cứ vào nhân thân, mức độ lệ thuộc vào chất ma túy, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng để quyết định một mức thời hạn tương xứng, phù hợp với từng đối tượng cụ thể.

Ngược lại, khoản 1 Điều 29 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 lại mang tính chất của một quy phạm bắt buộc tuyệt đối: "Thời hạn cai nghiện ma túy đối với người cai nghiện ma túy lần đầu là 24 tháng, đối với người cai nghiện ma túy từ lần thứ hai trở lên là 36 tháng."

Tính chất bắt buộc này tiếp tục được củng cố tại khoản 3 Điều 29 và khoản 2 Điều 30 của Luật này, theo đó người cai nghiện bắt buộc phải thực hiện đầy đủ thời hạn và quy trình theo quy định. Đồng thời, tại khoản 8 Điều 35 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 cũng chỉ định rõ Tòa án nhân dân cấp huyện (Tòa án nhân dân khu vực) có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, còn trình tự, thủ tục xem xét, quyết định do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định.

Chính sự giao thoa nhưng chưa thống nhất giữa luật nội dung chuyên ngành (Luật Phòng, chống ma túy) và luật hình thức/thủ tục (Luật XLVPHC) đã dẫn đến các diễn giải pháp lý khác nhau.

Qua nghiên cứu, thực tiễn đang tồn tại hai quan điểm trái chiều:

Quan điểm thứ nhất: Cho rằng Điều 95 Luật XLVPHC là quy định gốc điều chỉnh trực tiếp về "thời hạn áp dụng biện pháp XLVPHC". Do đó, dù Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 quy định thời hạn chuyên biệt là 24 hoặc 36 tháng, Tòa án khi ra Quyết định vẫn phải tuân thủ khung thời hạn quy định tại Điều 95 Luật XLVPHC. Hơn nữa, nếu Tòa án tuyên thời hạn 36 tháng đối với đối tượng tái nghiện là vượt quá thời hạn tối đa (giới hạn trần 24 tháng) được pháp luật XLVPHC cho phép.

Quan điểm thứ hai: Khẳng định kể từ ngày 01/7/2026, Tòa án bắt buộc phải áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025. Theo góc độ này, Luật XLVPHC chỉ định danh loại biện pháp, còn thời hạn thực tế phải tuân theo pháp luật chuyên ngành. Tòa án không còn thẩm quyền lựa chọn, cân nhắc trong khung từ 12 đến 24 tháng nữa mà phải áp dụng thời hạn cố định (24 tháng hoặc 36 tháng) tương ứng với từng trường hợp.

Quan điểm thứ ba, cũng là quan điểm của người viết: Dưới góc độ khoa học pháp lý và thực tiễn xét xử, người viết cho rằng để giải quyết xung đột này, cần áp dụng các nguyên tắc xây dựng và ban hành VBQPPL nhằm xác định hiệu lực ưu tiên áp dụng, thay vì chỉ so sánh mặt cơ học về mặt thời gian (dài hay ngắn).

Thứ nhất, xét về nguyên tắc áp dụng pháp luật: Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 là VBQPPL do cùng một cơ quan ban hành (Quốc hội), điều chỉnh cùng một quan hệ xã hội nhưng là quy định chuyên biệt và được ban hành sau. Dựa trên nguyên tắc ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành và luật ban hành sau (được ghi nhận tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật), quy định tại Điều 29 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 đương nhiên có giá trị pháp lý ưu tiên áp dụng.

Thứ hai, xét về ý chí mang tính lập pháp: Các quy định tại khoản 3 Điều 29 và khoản 2 Điều 30 thể hiện rõ quan điểm của nhà làm luật: Việc cai nghiện phải tuân thủ nghiêm ngặt và trọn vẹn cả về "quy trình" lẫn "thời hạn" để bảo đảm hiệu quả cắt cơn, giải độc và phục hồi hành vi. Khoản 8 Điều 35 chỉ giao thẩm quyền cho Tòa án phán quyết về việc có hay không áp dụng biện pháp, chứ không trao quyền định đoạt một thời hạn khác với thời hạn luật định. Vì vậy, khi có đủ căn cứ pháp lý, Tòa án phải áp dụng chính xác mức thời hạn cố định 24 tháng hoặc 36 tháng.

Tuy nhiên, nhìn từ khía cạnh kỹ thuật lập pháp, sự thiếu đồng bộ giữa Điều 95 Luật XLVPHC và Điều 29 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025 là một khiếm khuyết mang tính hệ thống. Nếu không có sự sửa đổi hoặc hướng dẫn kịp thời, tình trạng "xung đột thẩm quyền nội dung" này sẽ dẫn đến sự lúng túng, thiếu thống nhất trong thực tiễn áp dụng giữa các Tòa án địa phương.

Về khía cạnh bảo đảm quyền con người, việc quy định thời hạn cố định tuân theo chính sách hình sự - hành chính mang tính vĩ mô của Quốc hội nhằm tối ưu hóa hiệu quả phòng chống tệ nạn. Người bị đề nghị áp dụng không đương nhiên có quyền yêu cầu được hưởng mức thời hạn tối thiểu, mà họ có quyền được xét xử và áp dụng pháp luật một cách chính xác, minh bạch. Dù vậy, cũng cần nhìn nhận khách quan rằng, việc triệt tiêu khung thời hạn đã làm giảm đi đáng kể tính cá thể hóa biện pháp trách nhiệm hành chính. Thẩm phán không còn cơ sở pháp lý để áp dụng mức thời hạn ngắn hơn đối với những đối tượng có nhân thân tốt, có hoàn cảnh đặc biệt hoặc có ý thức hợp tác cao.

Nhằm bảo đảm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và tính thống nhất của hệ thống pháp luật, người viết đưa ra một số kiến nghị cụ thể sau:

Một là, Khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung Điều 95 Luật Xử lý vi phạm hành chính để chuẩn hóa và tương thích hoàn toàn với quy định về thời hạn tại Điều 29 Luật Phòng, chống ma túy năm 2025.

Hai là, Tòa án nhân dân tối cao cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật đối với các trường hợp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ ngày 01/7/2026, theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy năm 2025.

Nguyễn Trần Đôn – Nguyễn Thị Thanh